Viêm màng bồ đào có nguy hiểm không?

1. Viêm màng bồ đào là gì?

Màng bồ đào là một lớp màng mạch máu, cung cấp máu chủ yếu cho nhãn cầu. Màng này nằm giữa lớp củng mạc (tròng trắng) phía ngoài và lớp võng mạc (màng thần kinh cảm nhận ánh sáng) phía trong.
Màng bồ đào gồm có 3 phần từ trước ra sau: mống mắt – thể mi (màng bồ đào trước) – hắc mạc (màng bồ đào sau).
Khi màng này bị viêm do bất cứ lý do gì, bệnh cảnh này được gọi là viêm màng bồ đào.

viêm màng bồ đào - mat304

Hình ảnh bệnh nhân bị viêm màng bồ đào

2. Phân loại dựa trên cấu trúc giải phẫu:

– Viêm màng bồ đào trước.
– Viêm màng bồ đào sau.
– Viêm màng bồ đào tòan bộ.

3. Nguyên nhân:

Nguyên nhân của bệnh viêm màng bồ đào rất đa dạng và phức tạp:
– Bệnh tự miễn: bệnh Behcet, sarcoidosis, viêm đốt sống dính khớp,…
– Nhiễm trùng: siêu vi, vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm,…
– Chấn thương.
– Một số bệnh lý ung thư.
– Vô căn : đa số trường hợp không tìm được nguyên nhân.

4. Triệu chứng:

Triệu chứng có thể xuất hiện đột ngột và diễn tiến nặng nhanh chóng. Tuy nhiên, cũng có thể xuất hiện – diễn tiến từ từ, kín đáo.
– Đỏ.
– Đau.
– Sợ ánh sáng.
– Giảm thị lực.
– Ruồi bay.
Bệnh có thể diễn tiến cấp tính (< 3 tháng) hoặc mãn tính, xảy ra ở 1 mắt hoặc 2 mắt (cùng lúc hoặc luân phiên). Ngoài ra, bệnh có thể tái phát.

5. Chẩn đoán:

Bệnh nhân cần đến gặp bác sĩ chuyên khoa mắt ngay khi có triệu chứng nghi ngờ để kịp thời phát hiện và điều trị.
Tùy theo bệnh sử và triệu chứng ghi nhận được khi khám, bác sĩ chuyên khoa sẽ chỉ định làm những xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết để tìm ra nguyên nhân gây bệnh. Sau đó, bác sĩ chuyên khoa Mắt có thể hội chẩn khám với bác sĩ chuyên khoa khác để phối hợp tìm các bệnh lý toàn thân.

6. Điều trị:

Quá trình điều trị thường cần đến sự phối hợp của bác sĩ chuyên khoa mắt và bác sĩ chuyên khoa khác. Nếu có nguyên nhân đặc hiệu: cần điều trị triệu chứng tại mắt và nguyên nhân đặc hiệu. Mục đích điều trị là giảm viêm tại mắt và giảm biến chứng do viêm.
Các thuốc thường dùng:
– Thuốc kháng viêm: corticoide được dùng tại chỗ (dạng nhỏ, tiêm nội nhãn, tiêm cạnh cầu) hay dung toàn thân ( uống hoặc tiêm tĩnh mạch), thuốc kháng viêm không có corticoid (NSAIDs). Liều lượng và thời gian dùng cần tuân theo hướng dẫn của bác sĩ, tránh tự ý tăng, giảm liều hoặc ngưng thuốc đột ngột vì có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm. Cần lưu ý những tác dụng phụ của sử dụng corticoid, NSAIDs khi dùng lâu dài. Khi có triệu chứng bất thường trong quá trình dùng thuốc, bệnh nhân cần đến tái khám để được tư vấn và hướng dẫn.
– Thuốc dãn đồng tử: ngừa biến chứng dính mống mắt, giảm đau.
– Kháng sinh hoặc kháng virus: khi nguyên nhân là nhiễm trùng.
– Thuốc ức chế miễn dịch: có thể chỉ định khi không đáp ứng hay không dung nạp được với corticoide. Tuy nhiên, thuốc có nhiều tác dụng phụ nguy hiểm nên cần có sự phối hợp theo dõi định kỳ của bác sĩ chuyên khoa nội có kinh nghiệm sử dụng thuốc ức chế miễn dịch.
– Phẫu thuật: cắt dịch kính đôi khi được chỉ định để lấy bệnh phẩm làm các xét nghiệm tìm nguyên nhân hoặc để điều trị để lọai bỏ dịch kính đục và các màng xơ trong mắt. Phẫu thuật đục thể thủy tinh cần có sự chuẩn bị trước mổ cẩn thận. Bệnh nhân có thể cần tăng liều hoặc bắt đầu dùng lại thuốc kháng viêm vài ngày trước mổ.

7. Biến chứng:

Nếu không điều trị, bệnh có thể dẫn đến các biến chứng sau:
– Tăng nhãn áp (glaucoma).
– Đục thể thủy tinh.
– Đục mờ giác mạc (bệnh lý giác mạc dải băng).
– Bong võng mạc thanh dịch hoặc bong võng mạc do co kéo.
– Mù.
– Teo nhãn.

8. Kết quả điều trị:

Tùy theo nguyên nhân, vị trí viêm, thời điểm bắt đầu điều trị và biến chứng đã có, kết quả thị lực sau điều trị có thể khác nhau theo từng bệnh nhân.

TS.BS. Võ Thị Hoàng Lan
Bộ môn Mắt, Đại học Y Dược TP.HCM

Chia sẻ :

Trung tâm Mắt 30-4